Đang truy cập
Tổng truy cập
26
6.846.998
Cải thiện môi trường kinh doanh tỉnh Vĩnh Long: Kết quả năm 2025 và định hướng triển khai Nghị quyết 02/NQ-CP năm 2026
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng và yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, môi trường kinh doanh ngày càng được khẳng định là yếu tố then chốt quyết định khả năng thu hút đầu tư, phát triển khu vực kinh tế tư nhân và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Một môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi, thủ tục hành chính đơn giản, chính sách ổn định và bộ máy quản lý vận hành hiệu quả không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển mà còn góp phần củng cố niềm tin xã hội, thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ qua các năm về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đã trở thành khuôn khổ chính sách quan trọng, định hướng triển khai đồng bộ các giải pháp cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, qua đó cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Năm 2025, việc triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long diễn ra trong bối cảnh đặc biệt: tỉnh thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời chịu tác động đan xen của những biến động kinh tế toàn cầu, chi phí sản xuất gia tăng và sức ép cạnh tranh ngày càng lớn - đây vừa là thách thức đáng kể đối với công tác chỉ đạo, điều hành, vừa là cơ hội để tỉnh tái cấu trúc bộ máy, đổi mới phương thức quản lý và thúc đẩy cải cách một cách thực chất, hiệu quả. Những kết quả đạt được trong năm 2025 vì vậy không chỉ mang ý nghĩa trước mắt mà còn tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026 theo hướng đồng bộ, bền vững và có chiều sâu hơn.
Một trong những kết quả nổi bật trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2025 là sự cải thiện rõ rệt của môi trường đầu tư, kinh doanh, được phản ánh trực tiếp qua sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng doanh nghiệp thành lập mới. Năm 2025, tỉnh Vĩnh Long thành lập mới 3.065 doanh nghiệp, đạt 188% kế hoạch; lũy kế đến ngày 31/12/2025, toàn tỉnh có 12.492 doanh nghiệp đang hoạt động, với tổng vốn đăng ký 198.497 tỷ đồng. Đây là mức tăng cao, cho thấy niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh và năng lực điều hành của chính quyền địa phương đã được củng cố đáng kể.
Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp giải thể năm 2025 giảm so với năm 2024 (giảm khoảng 2,03%) phản ánh khả năng thích ứng và trụ vững của doanh nghiệp tỉnh, nhất là trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn. Kết quả này không chỉ xuất phát từ nhu cầu nội tại của thị trường mà còn là kết quả của việc tỉnh triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và tạo lập môi trường đầu tư ổn định, minh bạch.
Ảnh: Doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long có ý kiến tại Họp mặt Doanh nghiệp
Cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được xác định là khâu đột phá trong cải thiện môi trường kinh doanh. Năm 2025, tỉnh Vĩnh Long đã đạt được những kết quả rõ nét trong việc đơn giản hóa và số hóa thủ tục liên quan đến đăng ký kinh doanh. Thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được rút ngắn xuống còn trung bình 02 ngày, đáp ứng và duy trì đúng chỉ tiêu đề ra. Đặc biệt, 100% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp được thực hiện qua môi trường điện tử, vượt kế hoạch 20 điểm %. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí tuân thủ mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm tiếp xúc trực tiếp và hạn chế nguy cơ phát sinh tiêu cực trong quá trình giải quyết thủ tục. Quan trọng hơn, cải cách thủ tục hành chính đã từng bước chuyển từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ”, phù hợp với định hướng xây dựng chính quyền kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Song song với cải cách thủ tục hành chính, chất lượng cung cấp dịch vụ công được nâng lên thông qua việc đẩy mạnh giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Tỷ lệ cấp kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử đạt 85,23%, phản ánh mức độ chuyển dịch rõ rệt từ phương thức truyền thống sang phương thức điện tử. Đáng chú ý, tỷ lệ khai thác, sử dụng lại thông tin, dữ liệu số hóa đạt 65,25%, vượt ngưỡng tối thiểu theo yêu cầu, góp phần giảm việc cung cấp lại thông tin, hồ sơ của người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính đạt 91,11%, vượt chỉ tiêu đề ra. Đây là chỉ báo quan trọng phản ánh hiệu quả cải cách không chỉ ở khía cạnh kỹ thuật mà còn ở chất lượng phục vụ và thái độ, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức.
Trong năm 2025, công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật được triển khai với khối lượng lớn nhằm bảo đảm tính thống nhất và thông suốt trong vận hành bộ máy sau sắp xếp đơn vị hành chính. Tỉnh đã rà soát 593 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó nhiều văn bản được sửa đổi, bãi bỏ hoặc đề xuất xây dựng mới để phù hợp với tình hình thực tiễn.
Đối với các dự án đầu tư gặp khó khăn, tỉnh đã tiến hành rà soát, xác định 17 dự án tồn đọng, vướng mắc, trong đó 05 dự án đã có ý kiến chỉ đạo xử lý, số còn lại đang tiếp tục được rà soát hoặc chờ hướng dẫn từ Trung ương. Việc duy trì các kênh đối thoại thường xuyên như họp mặt doanh nghiệp, “cà phê doanh nghiệp” đã góp phần kịp thời nắm bắt vướng mắc, tạo cơ chế phản hồi hai chiều và củng cố niềm tin của nhà đầu tư đối với chính quyền địa phương.
Hoạt động xúc tiến và thu hút đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh trong năm 2025. Toàn tỉnh đã tiếp và làm việc với hơn 218 lượt nhà đầu tư, đồng thời cấp mới 40 dự án đầu tư, trong đó có 05 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 14,48 triệu USD và 35 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 20.788,83 tỷ đồng. Đây là minh chứng cho sức hấp dẫn đầu tư của tỉnh trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các địa phương.
Song song đó, các chính sách hỗ trợ về thuế, tín dụng được triển khai kịp thời, với tổng giá trị hỗ trợ và gia hạn thuế, tiền thuê đất lên đến hàng nghìn tỷ đồng, góp phần giảm áp lực tài chính và hỗ trợ doanh nghiệp duy trì, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Năm 2025 ghi nhận sự chuyển biến tích cực trong phát triển các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các hoạt động đào tạo, tư vấn về quản trị doanh nghiệp, tài chính, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo được triển khai ngày càng đa dạng, sát với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo từng bước được hình thành thông qua hoạt động của vườn ươm doanh nghiệp, các chương trình kết nối cố vấn, nhà đầu tư và doanh nghiệp khởi nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng tăng trưởng, chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu.
Ảnh: Lớp tập huấn nâng cao năng lực cho doanh nghiệp tại tỉnh Vĩnh Long
Tổng thể, việc thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2025 tại tỉnh Vĩnh Long đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ hành chính công và thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Tuy đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao chất lượng phục vụ doanh nghiệp, việc thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2025 tại tỉnh Vĩnh Long vẫn còn một số hạn chế, như:
Trước hết, cơ cấu doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ; số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng nhanh nhưng phần lớn có quy mô vốn thấp, năng lực tài chính hạn chế, khả năng tích lũy và chống chịu trước biến động thị trường còn yếu. Điều này làm giảm khả năng mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh dài hạn của khu vực kinh tế tư nhân.
Bên cạnh đó, năng lực quản trị doanh nghiệp và trình độ đổi mới sáng tạo nhìn chung còn ở mức khiêm tốn. Nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư bài bản cho quản trị hiện đại, quản trị rủi ro, xây dựng chiến lược phát triển dài hạn; việc ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới mô hình kinh doanh còn mang tính tự phát, thiếu tính hệ thống. Mặc dù tỉnh đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ, đào tạo và tư vấn, song mức độ lan tỏa và khả năng hấp thụ chính sách của doanh nghiệp còn hạn chế, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp mới thành lập.
Chuyển đổi số trong doanh nghiệp và trong bộ máy hành chính tuy đã có bước tiến nhưng chưa đồng đều giữa các lĩnh vực. Tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính điện tử và tái sử dụng dữ liệu số hóa đã đạt kết quả tích cực, song trên thực tế vẫn còn tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn trong thao tác, khai thác dịch vụ công trực tuyến. Ở chiều ngược lại, không ít doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, còn thiếu nguồn lực tài chính, nhân sự và kỹ năng để triển khai chuyển đổi số một cách hiệu quả, dẫn đến khoảng cách giữa yêu cầu chính sách và thực thi thực tế.
Ngoài ra, nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục là một điểm nghẽn lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện cải cách. Ở khu vực doanh nghiệp, tình trạng thiếu lao động có tay nghề, kỹ năng quản trị và kỹ năng số còn khá phổ biến. Trong khu vực hành chính nhà nước, mặc dù đội ngũ cán bộ, công chức đã có nhiều nỗ lực đổi mới, song tại một số đơn vị, nhất là ở cấp cơ sở, năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện và thích ứng với yêu cầu cải cách, chuyển đổi số vẫn còn hạn chế. Điều này phần nào làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, nhất là trong bối cảnh yêu cầu cải cách theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày càng cao và toàn diện hơn.
Ngày 08/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026, tiếp tục khẳng định quyết tâm cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới, với trọng tâm chuyển từ cải cách hình thức sang cải cách thực chất, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm của quá trình cải cách. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cắt giảm và đơn giản hóa thực chất thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; đẩy mạnh số hóa, cung cấp dịch vụ công trực tuyến hiệu quả, không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng cao chất lượng thực thi chính sách và kỷ luật, kỷ cương hành chính; đồng thời tạo lập môi trường thuận lợi để phát triển khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Các mục tiêu của Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026 không chỉ hướng tới cải thiện thứ hạng các chỉ số đánh giá mà quan trọng hơn là nâng cao trải nghiệm thực tế, giảm chi phí tuân thủ và gia tăng niềm tin của doanh nghiệp, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Trên cơ sở những định hướng và yêu cầu cốt lõi của Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026, việc cụ thể hóa các mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh cần được đặt trong điều kiện thực tiễn của từng địa phương. Đối với tỉnh Vĩnh Long, các kết quả đạt được trong năm 2025 đã tạo nền tảng quan trọng, song cũng bộc lộ những hạn chế mang tính cơ cấu và thực thi đòi hỏi phải có cách tiếp cận phù hợp, linh hoạt và có trọng tâm hơn trong giai đoạn tới. Vì vậy, việc đề xuất các giải pháp cho năm 2026 không chỉ nhằm thực hiện đầy đủ tinh thần của Nghị quyết số 02/NQ-CP, mà còn hướng tới giải quyết trực diện những điểm nghẽn cụ thể của tỉnh, bảo đảm cải cách đi vào chiều sâu, tạo chuyển biến thực chất trong môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của địa phương. Cụ thể một số giải pháp tham khảo đề xuất để triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026 như sau:
Thứ nhất, chuyển trọng tâm cải cách từ “đầu vào thể chế” sang “kết quả đầu ra đối với doanh nghiệp”, cải cách môi trường kinh doanh phải được đo lường bằng mức độ thuận lợi mà doanh nghiệp thực sự cảm nhận, thay vì số lượng văn bản hay quy trình được ban hành.
Thứ hai, đẩy nhanh số hóa thủ tục hành chính, coi dữ liệu là nền tảng của cải cách, cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống dữ liệu dùng chung, tăng mạnh tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu số hóa, hạn chế yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại thông tin đã có. Số hóa không chỉ nhằm thuận tiện hóa thủ tục mà còn là công cụ quan trọng để nâng cao tính minh bạch, giảm tiếp xúc trực tiếp và kiểm soát hiệu quả quá trình thực thi công vụ.
Thứ ba, nâng cao chất lượng thực thi ở cấp cơ sở - điểm nghẽn quyết định hiệu quả cải cách, thực tiễn cho thấy khoảng cách lớn nhất giữa chủ trương và kết quả cải cách nằm ở khâu thực thi, đặc biệt tại cấp cơ sở. Do đó, triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026 cần đặt trọng tâm vào nâng cao năng lực, trách nhiệm và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ trực tiếp giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp. Việc đánh giá cán bộ cần gắn với kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp, thay vì chỉ dựa trên quy trình nội bộ.
Thứ tư, thiết kế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng chọn lọc và có điều kiện, doanh nghiệp nhỏ và vừa là lực lượng chủ đạo của kinh tế tỉnh nhưng cũng là nhóm dễ tổn thương nhất trước biến động nên cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có trọng tâm, tập trung vào nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp, đặc biệt là quản trị, tài chính và chuyển đổi số. Chính sách hỗ trợ cần gắn với cam kết đổi mới và tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp để bảo đảm hiệu quả và tính bền vững.
Thứ năm, thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp như một trụ cột cải thiện môi trường kinh doanh, tiếp tục xác định mở rộng khu vực kinh tế chính thức là mục tiêu quan trọng. Khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp cần được coi là một chiến lược dài hạn, thông qua việc đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí chuyển đổi và cung cấp hỗ trợ ban đầu về pháp lý, kế toán, thuế. Quan trọng hơn, cần thay đổi nhận thức của hộ kinh doanh về lợi ích dài hạn của mô hình doanh nghiệp.
Thứ sáu, gắn cải thiện môi trường kinh doanh với đổi mới mô hình tăng trưởng, lồng ghép các mục tiêu đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh vào chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, nâng cao năng suất và giá trị gia tăng thay vì chỉ mở rộng quy mô.
Thứ bảy, tăng cường đối thoại chính sách và cơ chế phản hồi hai chiều với doanh nghiệp, một môi trường kinh doanh thuận lợi không thể thiếu cơ chế đối thoại hiệu quả giữa chính quyền và doanh nghiệp, do đó cần nâng cao chất lượng các kênh tiếp nhận, xử lý kiến nghị của doanh nghiệp, bảo đảm mọi phản ánh đều được trả lời rõ ràng, đúng thời hạn và có trách nhiệm. Đối thoại không chỉ để “lắng nghe” mà phải dẫn đến điều chỉnh chính sách và cải thiện cách thức thực thi.
Thứ tám, nâng cao chất lượng xây dựng và rà soát văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường tham vấn doanh nghiệp ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách, hạn chế ban hành quy định phát sinh chi phí không cần thiết, qua đó giảm rủi ro và tạo niềm tin cho nhà đầu tư.
Thứ chín, sử dụng các chỉ số đánh giá như công cụ điều hành, không chỉ là thước đo xếp hạng, các chỉ số như PCI hay mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp cần được sử dụng như công cụ chẩn đoán chất lượng điều hành kinh tế, cần phân tích sâu các chỉ số này để xác định rõ điểm nghẽn, từ đó thiết kế giải pháp cải cách trúng và đúng, tránh tư duy chạy theo thứ hạng mà bỏ qua cải thiện thực chất.
Thứ mười, để bảo đảm tính nhất quán và tăng cường trách nhiệm giải trình trong quá trình thực hiện cải cách, việc cải thiện môi trường kinh doanh cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, gắn chặt với vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu. Quá trình này đòi hỏi sự kiên trì, liên tục và thực chất trong tổ chức thực hiện, qua đó từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và hình thành môi trường đầu tư hấp dẫn, ổn định trong dài hạn.
Cải thiện môi trường kinh doanh là nhiệm vụ lâu dài, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế địa phương. Thực tiễn cho thấy, khi thủ tục hành chính được đơn giản hóa, dịch vụ công được nâng cao và chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp, niềm tin thị trường sẽ được củng cố. Môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao hiệu quả hoạt động. Vì vậy, việc duy trì quyết tâm cải cách, bảo đảm tính nhất quán trong chỉ đạo và nâng cao trách nhiệm thực thi sẽ góp phần tạo nền tảng cho phát triển ổn định, bền vững trong thời gian tới./.
B.Ngọc
- Cải thiện môi trường kinh doanh tỉnh Vĩnh Long: Kết quả năm 2025... (23/01/2026)
- Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiếp và làm việc với đoàn công... (22/01/2026)
- Mời Doanh nghiệp tham gia khảo sát nhu cầu đào tạo nâng cao năng... (20/01/2026)
- Chính phủ ban hành Quyết định số 01/2026/QĐ-TTg: Hướng dẫn tôn... (20/01/2026)
- Nghị định số 20/2026/NĐ-CP tạo động lực phát triển khu vực kinh... (20/01/2026)
- Ra mắt “Không gian Thương hiệu và Công nghệ tỉnh Vĩnh Long” –... (20/01/2026)
- Vĩnh Long thông qua điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Vĩnh Long: Hướng... (19/01/2026)