Ba đại biểu đầu tiên tỉnh Vĩnh Long của Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội năm 1946
Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử. Sắc lệnh đã ghi rõ:“Chiếu theo Nghị quyết của Quốc dân Đại hội ngày 16, 17-8-1945 tại khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hòa và chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên”. Để xúc tiến công việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử, ngày 29-9-1945, Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 51-SL, ngày 17-10-1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa giành độc lập.
Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên - Nam bộ bầu cử trong đổ máu
Về ý nghĩa cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người nói: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc của nước nhà”; “Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”; “Do tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”. Những đối tượng được ra ứng cử đại biểu Quốc hội, theo Người là “Những người muốn lo việc nước” và Người cho rằng “Hễ là công dân đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái”.
Cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội khóa đầu tiên ở nước ta diễn ra trong điều kiện thù trong, giặc ngoài, tình hình kinh tế-xã hội hết sức khó khăn. Do vậy, cuộc Tổng tuyển cử lần này không chỉ là một cuộc vận động chính trị thông thường, mà thực chất là cuộc đấu tranh chính trị vô cùng gay go, phức tạp và không kém phần quyết liệt. Đặc biệt trong quá trình đấu tranh thương lượng và nhân nhượng, chúng ta đã thừa nhận 70 ghế đại diện của Việt Nam Quốc dân đảng (Việt quốc), Việt cách trong Quốc hội mà không thông qua bầu cử cũng như việc có đại diện của họ tham gia Chính phủ lâm thời.
Tuy nhiên, dưới danh nghĩa quân Đồng Minh tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật, quân đội một số nước đế quốc đã kéo vào nước ta: gần 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch ở phía Bắc vĩ tuyến 16 và hàng vạn quân Anh ở phía Nam vĩ tuyến 16. Nấp dưới bóng quân Anh, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp đã nổ súng ở Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ 2. Hàng vạn quân Nhật còn lại trên đất nước ta cũng tham gia chống lại chính quyền cách mạng. Lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam cầm đầu và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần nắm giữ, theo chân quân Tưởng kéo về chống phá cách mạng, tình hình Nam bộ những ngày bầu cử đã diễn ra rất nghiêm trọng, có đến 14 cán bộ bầu cử đã hy sinh.
Là sách lược hết sức mềm dẻo, khôn khéo của Mặt trận Việt Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm cô lập bọn phản động và hạn chế sự chống phá điên cuồng của chúng vào cuộc bầu cử, trong diễn văn khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I nước Việt NamDân chủ Cộng hòa, Người nhấn mạnh: “Các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam. Đó là đoàn kết tỏ ra rằng lực lượng toàn dân Việt Nam kết lại thành một khối...”. Bởi theo Người: "Quốc hội là tiêu biểu ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi”, “Quốc hội đoàn kết nhất trí, toàn dân đoàn kết nhất trí thì khó khăn nào chúng ta cũng khắc phục được, và thắng lợi nhất định về tay ta”.
Để cuộc bầu cử Quốc hội diễn ra thắng lợi, ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, có đoạn viết: “... Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình...”. Để cử tri thực thi nhiệm vụ thiêng liêng,Báo Cứu Quốc số đặc biệt ngày 6/1/1946 đăng bài của Người: “Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu để bầu những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội khóa đầu tiên của nước ta”.
Những đại biểu Quốc hội đầu tiên của tỉnh Vĩnh Long
Cuộc bầu cử Quốc hội thắng lợi cả nước ngày 6-1-1946, là một mốc son đánh dấu sự kiện trọng đại của quốc gia đầu tiên Đông Nam Á vừa giành độc lập. Tại Nam bộ, trong 73 đại biểu Quốc hội bầu ra, tỉnh Vĩnh Long có 3 người, là: Nguyễn Văn Phát, Phan Văn Sử, Nguyễn Văn Thiệt; tỉnh Trà Vinh có3 người, Nguyễn Duy Khâm, Dung Văn Phúc (tức Năm Đông), Nguyễn Văn Tây (tức Thanh Sơn).
Các đại biểu của tỉnh Vĩnh Long, đại biểu Nguyễn Văn Phát, nguyên là nhà hoạt động chính trị nhiều năm liền tại Vĩnh Long và là Chủ tịch đầu tiên Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long năm 1945. Ông sinh ngày 19/01/1909 tại làng Hội An, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc xã Hội An Đông, Lấp Vò - Đồng Tháp. Xuất thân trong gia đình tiểu tư sản, song từ năm 1927 đã tham gia phong trào học sinh tại Vĩnh Long. Sau đó, ông được giới thiệu sang Quảng Đông, dựlớp học chính trị do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Năm 1928 sau khi củng cố các chi bộ tại Sa Đéc, Kỳ bộ Nam kỳ cử ông tham gia phụ trách Tỉnh bộ lâm thời Sa Đéc. Năm 1929 được Kỳ bộ điều động lên Sài Gòn nhận nhiệm vụ phụ trách tờ báo “Công Nông Binh” của Đảng ta tại Sài Gòn. Tại đây, ngày 23/9/1929 ông và ông Nguyễn Kim Cương, chị Nguyễn Thị Nhỏ (sau là vợ ông), bị mật thám vây bắt. Chúng đem giam 3 người ở Bót kín Sài Gòn vài ngày, sau chúng thả chị Nhỏ, còn ông chúng đưa lên giam ở Khám lớn Sài Gòn (nay là di tích tại khu đất Thư viện Thành phố Hồ Chí Minh), sau đó xét xử ông 5 năm đày đi Côn Đảo. Ra tù, từ năm 1940-1944, ông và Nguyễn Thị Nhỏ, tiếp tục bị quản thúc tại Vĩnh Long và đứt liên lạc với Đảng.
Năm 1945, cùng với 2 ông Nguyễn Hữu Thế, Nguyễn Văn Thiệt, gầy dựng lại tổ chức, thành lập chi bộ đặc biệt chuẩn bị cho Cách mạng Tháng 8 tại tỉnh Vĩnh Long. Sau Cách mạng Tháng 8, UBND tỉnh Vĩnh Long được thành lập, ông là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Nhân dân tỉnh, cùng Bác sĩ Nguyễn Văn Quế là phó Chủ tịch, ông Phan Văn Sử là Tổng thư ký Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Sau đó, đi vào kháng chiến, năm 1947 ông được điều sang phái đoàn Nam bộ sang Campuchia, song trên đường đi ông và đoàn bị bọn phản động phục bắt giam tại quận Vĩnh Châu, Bạc Liêu. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc về công tác ở Bộ Ngoại giao. Sau đó, được Chính phủ cử làm Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền tại Bungary (đến tháng 10/1966), sau là tại Angiêri từ 10/1966 đến tháng 10/1969. Xong nhiệm vụ Đại sứ quán, về nước, ông được cử là Vụ trưởng Bộ Ngoại giao. Năm 1970 được Đảng, Nhà nước cho nghĩ hưu tại Hà Nội, sau đó qua đời tháng 9/1982, hưởng thọ 82 tuổi
Đại biểu Phan Văn Sử,sau Cách mạng Tháng 8 là Tổng thư ký Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long, cũng là một nhà ngoại giao từng trãi. Ông sinh năm 1910 tại làng Trung Thành, Vũng Liêm. Từ nhỏ là một học sinh học giỏi, sau khi xong trường Collège de My Tho, ông được gia đình cho sang Pháp, tại Thành phố Bordeau (Pháp), đổ bằng tú tài tại Pháp. Ngay từ khi về Vĩnh Long, năm 1934 ông xin chính quyền thuộc địa mở một trường học cho con em tại phường 5, thành phố Vĩnh Long bây giờ. Trường lúc đầu mở tiểu học, sau là bậc trung học và có tên là “trường Trung Thành”. Và ngay tại ngôi trường này, ông đã ý thức và tham gia cách mạng, đây cũng là trung tâm điểm các hoạt động yêu nước tại tỉnh lỵ Vĩnh Long. Lần gặp Phó Giáo sư- Tiến sĩ Phan Thị Tươi, con gái ông - nguyên là Hiệu trưởng Trường ĐH Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, cô giáo cho tôi biết về thời gian này, cụ rất kín kẽ, vì mật thám Pháp theo dõi ngày đêm. Cô Phan Thị Tươicho biết, sau khi là Tổng thư ký UBND tỉnh Vĩnh Long, rồi kháng chiến bùng nổ, ông đã có sự quan hệ rộng với nhiều trí thức Nam bộ lúc này, như Diệp Ngọc Côn - chủ hiệu sách Long Hồ, Bùi Huy Sắc, Chánh lục sự Tòa án tỉnh; ông Trần Văn Chiểu và ông Dương Văn Muôn, từng du học ở Pháp về nước.
Năm 1946, ông được cử là Chủ tịch UBHC kháng chiến tỉnh Vĩnh Long, sau đó từ 1951-1953 ông được Trung ương điều sang Chủ tịch UB kháng chiến tỉnh Long Châu Sa. Năm 1954, ông được rút về làm Ủy viên phụ trách tập kết Dân Chính Đảng Nam bộ. Ra Bắc, ông được cử về Bộ Ngoại giao và từ năm 1958, được cử làm Tham tán của Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Rumani, sau đó về nước là Đảng ủy viên Đảng bộ Bộ Ngoại giao. Từ năm 1964 đến 1969 là Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền tại Tiệp Khắc. Về nước ông đảm nhiệm Vụ trưởng Á châu II - Bộ Ngoại giao cho đến tháng 10/1973. Sau ngày nước nhà thống nhất, ông và gia đình chuyển vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và ngày 06/5/1982 ông từ trần sau một thời gian dài lâm trọng bệnh.
Đại biểu Nguyễn Văn Thiệt,sinh năm 1906 tại Long Hồ,nguyên là Bí thư chi bộ Ngã tư Long Hồ đầu tiên của Tỉnh ủy Vĩnh Long. Ra đi hoạt động cách mạng từ sớm, nên vào năm 1927, khi Kỳ bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội Nam kỳ được thành lập và phân công ông tham gia vận động xây dựng cơ sở, lúc này ông ủy viên Kỳ bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội.
Sau đó, 3 người trong Chi bộ Long Hồ tại tỉnh Vĩnh Long, được đưa lên Sài Gòn ngụ tại căn nhà của tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, tại số 45 đường Verdun (nay là đườngLê Quý Đôn), rèn luyện phương cách hoạt động và phân công Nguyễn Văn Thiệt về lại tỉnh Vĩnh Long vận động, tổ chức cơ sở cách mạng. Cuối năm 1928, Chi bộ đầu tiên này đã đứng chân vững chắc hoạt động tại Long Hồ-Vĩnh Long.
Sau đó, đến thời điểm ngày 3-2-1930, tại tỉnh Vĩnh Long đã có 5 chi bộ Cộng sản. Sau những đợt hoạt động, thành lập các chi bộ đầu tiên này của tỉnh Vĩnh Long, ông Nguyễn Văn Nhung được chọn về dự một khóa huấn luyện do Kỳ ủy Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội tổ chức tại Nam kỳ ngay Sài Gòn. Sau khóa học này, Châu Văn Liêm (Kỳ ủy viên TNCMĐCH) đưa Nguyễn Văn Nhung về Long Hồ, giới thiệu làm Bí thư Chi bộ thay đồng chí Nguyễn Văn Thiệt, nhận nhiệm mới.
Năm 1931-1932, thực dân Pháp khủng bố, nhiều đảng viên bị vây bắt, chỉ một ít người thoát được các cuộc vây ráp của thực dân đã tập hợp lại thành lập Ban cán sự Vĩnh-Trà-Bến, củng cố lại Chi bộ, rút vào hoạt động bí mật trong quần chúng. Năm 1935, sau khi mãn hạn tù, Nguyễn Văn Thiệt được sự ủy nhiệm của Xứ ủy Nam kỳ, trở về Vĩnh Long xây dựng lại cơ sở Đảng, ông cùng các ông Đào Kiến Liên, Võ Tấn Đức, Lê Văn Khỏe…, chuẩn bị hoạt động công khai của Tỉnh ủy Vĩnh Long, khi Mặt trận Bình dân cầm quyền ở Pháp, sau phong trào Đông dương Đại hội tại Nam kỳ.
Khoảng cuối năm 1940 đầu 1941, khi tổ chức hoạt động công khai bị đàn áp gắt gao, Nguyễn Văn Thiệt bị thực dân Pháp quản thúc tại Nhà tù Bà Rá-Biên Hòa. Thời gian từ cuối năm 1941 đến 1943, một số đồng chí thoát khỏi cuộc vây ráp của thực dân Pháp, mất liên lạc với Trung ương và Xứ ủy Nam kỳ nên tự đứng ra gầy dựng phong trào cơ sở Đảng tại tỉnh.
Ngày 27/8/1945, phái đoàn của tỉnh tiến vào Nhà dây thép, buộc quân Nhật trao vũ khí về lực lượng cách mạng. Sáng ngày 28/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa tổ chức một cuộc mít-tinh lớn tại sân vận động Vĩnh Long, ra mắt Ủy ban khởi nghĩa gồm: Nguyễn Văn Phát, Trương Ngọc Quế, Phan Văn Sử và tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân, thành lập chính quyền của nhân dân.
Cuối tháng 9/1945, cuộc họp bàn về việc thống nhất các tổ chức Đảng được triệu tập ở Ngã tư Long Hồ, gồm Nguyễn Văn Thiệt, Nguyễn Văn Phát, Nguyễn Hữu Thế, Phan Văn Sử (Vĩnh Long) và Lưu Văn Tài (bộ phận Tam Bình); đi đến thống nhất hai tổ chức Đảng Tiền phong và Giải phóng, thành lập Tỉnh ủy thống nhất lâm thời Vĩnh Long và bầu Nguyễn Văn Thiệt làm Bí thư Tỉnh ủy.
Trong một thời kỳ dài hoạt động tại Vĩnh, với vai trò chủ chốt của Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, hơn 20 năm ông Nguyễn Văn Thiệt là đầu mối vững chắc để xây dựng cơ sở, thu thập nhiều cán bộ cách mạng về hoạt động tỉnh Vĩnh Long. Năm 1954, tập kết ra Bắc, Nguyễn Văn Thiệt được phân công là Phó Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn trực tiếp phụ trách công tác Đảng - Đoàn (sau đổi tên Bệnh viện Việt-Đức). Năm 1970, trong cơn bạobệnh kéo dài, ông Nguyễn Văn Thiệt đã từ trần tại Hà Nội vào ngày 31/12/1970, an táng tại thủ đô Hà Nội. Sau đó, mộ phần của ông đã được Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo đưa về cải táng tại nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Vĩnh Long.
Như vậy, ba đại biểu đầu tiên của tỉnh nhà là Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là ba người con trung kiên, gan dạ, sáng suốt đã nhiều năm liền chèo lái ngọn cờ Cách mạng của Tỉnh Đảng bộ, chính quyền tỉnh Vĩnh Long. Nay dù các ông đã trở về với thế giới người hiền, song trong lòng nhân dân Vĩnh Long, vẫn luôn nhớ mãi, đó là những chiến sĩ trung kiên, bất khuất, là ngọn lửa hồng nung nấu ý chí với biết bao con người của Đảng bộ tỉnh nhà và nhân dân Vĩnh Long mến yêu./.
Phạm Bá Nhiễu