Hình ảnh người phụ nữ trong văn học dân gian
Trần Mười
Người phụ nữ trong thời phong kiến sống một đời cơ cực, thiếu ăn, thiếu mặc và đành chịu dốt nát. Sự cực nhọc tăng thêm do chế độ trao quyền “gả bán” trong việc hôn nhân vào tay người gia trưởng và đặt người phụ nữ vào vị trí thấp bé, nhiều khi như một món hàng đem bán vào tay ai cũng được. Việc quy định tài sản đối với phụ nữ rất là khe khắt. Việc quy định chủ yếu làm cho phụ nữ không bao giờ được độc lập về kinh tế dù chính phụ nữ đã góp phần xây dựng kinh tế gia đình:
“Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu!
Chăn trâu cho khéo làm giàu cho cha.
Giàu thì chia bảy chia ba,
Phận em là gái được là bao nhiêu!
Trong 24 huấn điều của vua Lê Hiến Tông (1500), huấn điều thứ tám: “Khi chồng chết, phải thương yêu con vợ trước hoặc con vợ lẻ của chồng, nếu có gia tài không được chiếm đoạt làm của riêng mình”. Điều thứ chín: “Khi chồng chết mà mình chưa có con thì phải ở lại nhà chồng giữ việc tang chế, đúng nghi lễ, không được giấu giếm chuyển vận tài sản nhà chồng đem về nhà mình”.
Ca dao đã ghi lại tất cả các chặng đường của tình yêu, các khía cạnh của tình yêu, các trạng thái tình cảm của nam nữ thanh niên với những trắc trở, khó khăn do đời sống và do chế độ phong kiến gây nên. Ca dao trữ tình là một thiên tình ca muôn điệu. Tình yêu trong ca dao là thứ tình yêu lành mạnh, thắm thiết, hồn nhiên, vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến, thứ xiềng xích muốn kìm hãm đời đời cho “nam nữ thụ thụ bất thân”.
Tình yêu thắm thiết thường xảy ra những hờn ghen và giận tủi. Những lời dặn dò của họ gần giống như lời thề thốt, đôi bạn tình thường nhắc nhở nhau những cảnh khổ mà họ đã từng qua. Tình yêu ở đây gắn liền với thứ tình cảm xót xa của những người cùng chung cảnh khổ. Trong văn học dân gian, thể tỉ là một phương pháp chủ yếu trong sự diễn đạt tư tưởng và tình cảm. Nhân dân rất hay dùng thể tỉ để biểu hiện tình cảm cho được kín đáo. Trực tiếp như mấy câu ca dao sau:
“Thiếp xa chàng như rồng nọ xa mây,
Như con chèo bẻo xa cây măng vòi”.
Tình yêu của nam nữ thanh niên ở nông thôn là thứ tình yêu liên quan đến đồng ruộng, đến xóm làng. Như nhớ tình yêu thì nhớ cả quê hương, nhớ cả thức ăn, thức uống ngon lành, nhớ cả công việc vất vả hằng ngày. Nếu chỉ là “rồng” với “mây” người ta có thể bảo là viển vông, nhưng đến hình tượng “con chèo bẻo xa cây măng vòi” thì ai cũng phải nhận là một chị ở nông thôn.
Hay diễn tả sự gắn bó với nhau những khi gặp gian nan, trắc trở hay trong hoàn cảnh thuận lợi. Nỗi lo lắng muốn bảo vệ tình yêu chung thủy:
“Đôi ta như rắn liu điu,
Nước chảy mặc nước ta dìu lấy nhau”
Hay yêu thương nhau thắm thiết, nghèo khổ, giàu sang gắn bó bên nhau. Những đau thương khi xảy ra những cản trở làm cho ước nguyện không thành:
“Đôi ta như thể con tằm,
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong”.
Diễn tả sự sung sướng không bờ bến khi hai người được gần gũi nhau.
“Gối mền, gối chiếu không êm,
Gối lụa không mềm bằng gối tay em”.
Muốn ngỏ ý lấy nhau, bên trai hỏi đã “bóng gió”, bên gái ưng thuận và đáp lại một cách còn “bóng gió” hơn:
“Đêm trăng thanh, anh mới hỏi nàng:
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Đan sàng, thiếp cũng xin vâng.
Tre non đủ lá, non chăng hỡi chàng?”
Không dùng “đêm khuya” mà dùng “đêm trăng thanh” để chỉ lúc công việc rỗi rãi, thanh niên nam nữ ở nông thôn thường dễ tình tự với nhau, nếu dùng “đêm khuya” thì sẽ thành ra vợ chồng mất, những câu ca dao sau sẽ hóa ra vô nghĩa. Câu “non chăng hỡi chàng ?” thật là câu bẻ lại rất dí dỏm: anh bảo đã đủ lá mà lại nói là non, thì anh còn hỏi em làm gì?
Yêu nhau thì rồi làm cái gì cũng tốt cả mà chủ yếu là làm những công việc sản xuất hằng ngày. Đã thiết tha với công việc sản xuất thì cũng thiết tha yêu nhau:
“Đôi ta bắt gặp nhau đây,
Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang”
Cũng vì yêu nhau một cách nồng nhiệt như thế và luôn luôn liên hệ với công việc sản xuất của mình nên thanh niên nam nữ Việt Nam rất hăng hái và bền bỉ:
“Củi than nhem nhuốc với tình,
Ghi lời vàng đá, xin mình chớ quên”.
Hay:
“Trót đa mang vào kiếp bồng bềnh,
Xuống ghềnh, lên thác, một lòng ta thương nhau”
Hay:
“Em ơi! Chua ngọt đã từng,
Non xanh nước bạc, ta đừng quên nhau!”
Đều cho chúng ta thấy sự cùng nhau chịu đựng gian khổ của những thanh niên nam nữ trong quá trình đấu tranh thực hiện sản xuất là một điều ghi trong ký ức “tạc nghĩa đá vàng” làm cho họ nhất quyết “một lòng chung thủy”. Họ cùng nhau gắn bó keo sơn, tuy gian khổ, họ vẫn cố giữ cho có được hạnh phúc về tình yêu. Vì chính trên cơ sở tình yêu thắm thiết của đôi trai gái mới thật sự là cơ sở để xây dựng hạnh phúc gia đình.
Trong hôn nhân, khi họ đã không ưng thuận thì họ cũng không kể gì giàu sang, phú quý và cũng không tin gì ở số mạng:
“Giàu giữa làng, trái ngang khó ép,
Khó nước người, phải kiếp tìm đi.
Tiền trăm bạc chục kể chi…”
Thanh niên nam nữ đã hiểu rõ đâu là hạnh phúc:
“Chẳng ham nhà ngói bức bàn,
Trái duyên, coi bằng một gian chuồng gà.
Ba gian nhà rạ lòa xòa,
Phải duyên, coi tựa chín tòa nhà lim”.
Hay:
“Chẳng tham nhà ngói ba tòa,
Tham vì một nỗi mẹ cha anh hiền”
Nhà ngói là ước mơ của người nông dân lao động Việt nam ngày xưa. Thế mà ở đây, một cô gái lại nói: “Chẳng tham nhà ngói ba tòa”. Cô gái chẳng những không tham nhà ngói mà cả nhà ngói ba tòa cô cũng không tham. Vậy cô gái tham gì? “Tham gì một nỗi mẹ cha anh hiền”. Cô gái đã đem đối lập sự giàu sang, phú quý với tình cảm, đạo đức của con người. Cô không tham của cải, giàu sang. Cô quý trọng, yêu thích ưa chuộng tình cảm, đức độ hiền hòa của các bậc cha mẹ. Nghĩa là cô quý trọng tình cảm con người hơn của cải. Lời tâm tình mà chứa suy nghĩ lớn, đẹp. Nghệ thuật “chơi chữ” rất tế nhị ở câu ca dao nầy. Từ “tham” trong câu “chẳng tham nhà ngói ba tòa” là tham lam. Từ “tham” ở câu sau “Tham vì một nỗi mẹ cha anh hiền” là ham thích., ưa chuộng, ưa chuộng đến mê say. Tham lam của cải thì đáng chê. Còn tham đức độ hiền hòa của cha mẹ thì đáng trân trọng. Nghệ thuật chơi chữ dùng từ đồng âm khác nghĩa góp phần đối lập tình cảm con người với của cải và đề cao tình cảm đạo đức con người. Cô gái biết nói câu tâm tình như vậy chắc chắn là một cô gái đẹp, đẹp về tâm hồn, tư tưởng, tình cảm đạo đức.
Với tính thẳng thắn, với lòng thủy chung, họ quan niệm: yêu nhau thì lấy nhau, dù sống trong cảnh nghèo nhưng vẫn sung sướng. Bị mẹ chồng đối xử tàn tệ, họ muốn thoát khỏi chốn đày đọa đen tối, nhưng còn vấn vương trăm mối về tình yêu nên họ có những phát đấu tranh tư tưởng thật cảm động:
“Vợ chồng đầu gối mà kề,
Lòng nào mà bỏ mà về cho đang.
Hồ về, chân lại đá ngang,
Về sao cho dứt, cho đang mà về!”.
Đạo làm con gái, Tăng Tử dạy: “Đại hiếu tôn thân, tiền ý thừa chí, giục phụ mẫu chi đạo, kỳ thứ bất nhục, kỳ hạ năng dưỡng” nghĩa là người con gái không đi ngang về tắt, không tự ý lấy chồng mà không có sự đồng ý của cha mẹ và phải có lễ cưới rỡ ràng. Với tính thẳng thắn, với lòng thủy chung, họ quan niệm: Yêu nhau thì lấy nhau, dù sống trong cảnh nghèo nhưng vẫn là sung sướng:
“Ai chồng ai vợ mặc ai,
Bao giờ ra bảng ra bài mới hay.
Bao giờ tiền cưới trao tay,
Tiền cheo rấp nước mới hay vợ chồng”.
Khi đã nên duyên vợ chồng, thì một lòng chung thủy:
“Người ta thích lấy nhiều chồng,
Tôi đây chỉ thích một ông thật bền.
Thật bền như tượng đồng đen,
Trăm năm quyết với cùng em một lòng”.
Dù gian khổ, vất vả nhưng vẫn keo sơn gắn bó:
“Lấy chồng khó giữa làng,
Hơn lấy chồng sang thiên hạ”.
Cảnh chồng chung cực khổ nhưng đã có lệ luật phong kiến bảo vệ chế độ đa thê làm cho người phụ nữ đã mắc vào tròng thì khó mà ra được, nên có những người phụ nữ dù đói rét cũng không chịu đi lấy lẻ”
“Đói lòng ăn nắm lá sung,
Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng.
Một thuyền một lái chẳng xong,
Một chĩnh đôi gáo, còn nong tay vào”.
Về hình thức nghệ thuật, câu tục ngữ:
“Thuận vợ, thuận chồng, tát biển đông cũng cạn”
Có nét mới là không vần nhưng ý nghĩa nội tại của nó quả phong
phú nên dù không liên kết bên ngoài (vần) mà vẫn gây ấn tượng sâu sắc, vẫn dễ nhớ, dễ truyền. Tục ngữ cổ nhưng rất hiện đại đề cao sự đoàn tụ, sum họp, coi thường giàu có ích kỷ, biểu dương sức mạnh của sự hòa thuận vợ chồng.
“Nghĩa vợ chồng, không duyên thì nợ,
Tốt cũng hay mà dở cũng hay.
Thứ nhất vợ dạy trong nhà,
Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn”.
Hay:
“Có chi hay tiếng chì, tiếng bắc,
Chẳng đẹp nào đầu lắc môi trề.
Yêu nhau xấu tốt chẳng nề,
Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”.
Tình yêu nam nữ thanh niên ở nông thôn là thứ tình yêu liên quan đến đồng ruộng, đến xóm làng. Như nhớ tình yêu thì nhớ cả quê hương, nhớ cả thức ăn, thức uống ngon lành, nhớ cả những công việc vất vả hằng ngày. Tình yêu thương chung thủy của người chồng ra đi, đối với người vợ ở quê nhà:
“Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai dãi nắng, dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao!”.
“Quê nhà” không còn là “quê” và “nhà” Nó chỉ quê hương cũng như làng quê, quê mẹ, quê cha đất tổ, cố hương, quê cũ… nhưng vẫn có một sắc thái tình cảm riêng, ở đây là tình cảm đối với quê mà cũng lả tình cảm đối với nhà.. Ai còn không biết mối tình quê ấy? Cha mẹ, vợ con, người yêu, bà con, bạn bè cũng ở đấy. “Anh” là chủ thể, câu thơ lặp lại hai lần anh: “Anh đi anh nhớ”, một chủ thể hai hành vi một “đi” một “nhớ”. Có phải “anh” thì chỉ có một, rõ rệt, cụ thể, xác định, có giới hạn. Còn “đi” và “nhớ” là hai, gấp đôi, gấp bội. Lại còn đi thì ai biết đi đâu? Đi xa hay đi gần? đi bao lâu? Đi có về không? Nhớ thì làm sao biết là nhớ gì? Nhớ thế nào? Qua loa hay thắm thiết? vậy “đi” và “nhớ” thì chưa rõ rệt, chưa cụ thể, chưa xác định, không giới hạn. Quê nhà là những gì, chưa rõ, không xác định, không giới hạn. Đem cái xác định, có giới hạn đối lập với không xác định, không giới hạn là tạo ra cái mênh mông, dằng dặc, rất thực trong lòng người đang dậy lên thương nhớ.
“Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”
Nhớ quê nhà, đây là nét cụ thể đầu tiên. “Cà dầm tương” ăn với “canh rau muống” nấu chút tôm, chút cua đồng là món ăn nghèo, thanh đạm nhưng mặn mà. Chắc chắn sự lựa chọn nầy không phải ngẫu nhiên: rau muống trên sân, cà bên vườn, tương phơi trong hủ trước cửa, người làm là người thân. Muốn nói cái nghèo, cái đạm, cái thanh, cái mặn mà, hồn hậu.
“Nhớ ai dãi nắng dầm sương”
Có thể là tất cả bà con ở quê hương. Có thể là người gần mình nhất: cha mẹ, anh em. Cũng có thể là người yêu, người mình mơ tưởng.
“Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”
Từ “ai” trong tiếng Việt là một đại từ phiếm chỉ, có thể thay bất cứ người nào miễn nó kèm theo ngữ điệu thích hợp. Gọi “Ai” thì thường là đương còn trong tình trạng yêu nhau hoặc mới thầm yêu, mới “để ý” nhưng tình đã khá sâu.
Một cô gái Miền Nam với những gì dễ thương nhất, kín đáo nhất, bằng một cử chỉ, bằng cái nhìn xuống giấu tất cả xúc động:
“Thò tay mà bức lá ngò,
Thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ”.
Cô ấy thương anh, thương đứt ruột mà chẳng dám nói, thậm chí không dám nhìn, đành phải giả đò ngó ngơ. Mắt ngó ngơ nhưng tấm lòng cô, tình yêu của cô chiếu thẳng vào anh, từng giây phút đốt cháy anh bằng ngọn lửa bên trong cố nén, ngọn lửa làm gương mặt tâm hồn cô bất chợt sáng lên lạ lùng. Không một chút bóng gió, không biết tránh vào đâu được nếu người ta truy mình, không cả nghĩ đến chuyện liệu có nhận được một cử chỉ đền đáp. Bên trong vẻ dịu dàng chân chất đó là một tình yêu không khoan nhượng. Đừng ai đùa với một tình yêu như thế!.
Để đạt được thành công trong cuộc sống người Việt tin rằng phải có nỗ lực của con người trong ơn Trời trợ giúp. Với niềm tin đó, người vợ đã khuyên chồng:
“Xin chàng kinh sử học hành,
Để em cày cấy cửi canh kịp người
Mai sau xiêm áo thảnh thơi,
Ơn Trời, lộc nước đời đời hiển vinh”.
Để cho chồng yên tâm trau dồi kinh sử, học đạo Thánh hiền, người vợ tự nguyện đảm nhận vai trò trụ cột trong việc mưu sinh như cày cấy, dệt vải, nuôi tằm… Khi người chồng thi đỗ ra làm quan, đem tài giúp nước thì đó là vinh hiển cho bản thân, gia đình, dòng tộc, quê hương.
Hay:
“Tình chồng vợ, một ngày cũng nghĩa,
Đạo xướng tùy, chồng kể vợ nghe.
Thương chồng nấu cháo le le,
Nấu canh bông lý, nấu chè hạt sen”.
Trong truyền thống Việt Nam: “Sống cái nhà, thác cái mồ”, người Việt coi trọng cái nhà, trọng cái bếp, trọng người phụ nữ là hoàn toàn rõ nét. Phụ nữ Việt Nam là người có trách nhiệm quản lý kinh tế, tài chánh trong gia đình. Phụ nữ Việt Nam có vai trò trong việc giáo dục con cái “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” hoặc “con dại cái mang”.
Hay:
“Ruộng sâu trâu nái, không bằng con gái đầu lòng”.