NGƯỜI  NỮ BIỆT ĐỘNG THÀNH BẤT KHUẤT, KIÊN CƯỜNG

28/07/2021 07:38 GMT+7
In bài Gửi bài viết

Bút ký



          Người nữ biệt động thành có tên là Nguyễn Thị Kim Yến (tên thường dùng là Tư Hải), Chị sinh ra và lớn lên tại ấp An Bình, xã Phú Hựu, trong một gia đình đông con, có truyền thống cách mạng, cha là ông Nguyễn Thới Tứ (Bảy Hùng) là Tỉnh ủy viên – Trưởng ban An ninh đầu tiên trong thời kỳ chống Mỹ của tỉnh Vĩnh Long.  Chị có 7 anh em chị đều tham gia kháng chiến, riêng chị năm 15 tuổi (năm 1958), chị đã là đoàn viên Đoàn Thanh niên Lao động (nay là Đoàn TNCS.Hồ Chí Minh) xã Phú Hựu, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp).

         Lúc đó, tổ chức phân công chị nhiệm vụ rãi truyền đơn, vận động thanh niên tham gia cách mạng, phá bầu cử của địch. Chị tích cực và sôi nổi hoạt động, lập được nhiều thành tích. Năm 1961, chị được tổ chức chọn rút lên huyện công tác Thanh vận. Trong phong trào thanh niên, chị như một hạt nhân đoàn kết, tập họp thanh niên dưới bóng cờ của Đoàn, cống hiến sức trẻ cho kháng chiến. Tháng 3 năm 1962, năm 19 tuổi, chị vinh dự được kết nạp vào Đảng và được đề bạt chức vụ Ủy viên Thường vụ Ban Thanh vận huyện Châu Thành, Đồng Tháp. 

         Trong hoạt động cách mạng, chị Tư Hải quen biết anh Mười Nhu, anh là Trung đội trưởng bộ đội Đặc công của Tỉnh đội Vĩnh Long. Cùng chung lý tưởng, hợp ý nhau nên anh chị quyết định tiến đến hôn nhân. Hôm ấy, vào ngày 15- 9- 1962 tại Vàm Cây Sộp, xã An Khánh, Huyện ủy tổ chức đám tuyên hôn tập thể cho bốn đôi trai gái được nên duyên chồng vợ.

           Năm 1964, tình yêu của anh chị kết thành trái ngọt khi đứa con gái đầu tiên chào đời, bế con gái bé bỏng trên tay anh chị thấy được hạnh phúc lớn lao của người làm cha, làm mẹ. Và cứ như thế, sau mỗi trận đánh, anh về bên chị, bên con, cảm giác thật nồng nàn, hạnh phúc, anh chị ước mong sớm đuổi xong giặc để về dựng nên mái nhà ấm áp nơi quê nhà.

          Nhưng thời chiến tranh, đâu ai nói trước được điều gì. Lúc chị có mang đứa con thứ hai được 4 tháng thì ngày 23/11/1965, anh Mười Nhu hy sinh trong trận đánh đồn Xã Sĩ, xã An Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Nỗi đau đổ ập xuống đời chị! Ôi! Chiến tranh!!! Vì sự sống của đứa trẻ trong bụng và con gái nhỏ của anh chị, chị cố gắng nuốt nước mắt vượt qua nỗi đau! Lòng chị tự nhủ: “Phải sống để nuôi hai con và trả thù cho anh!”

          Chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tiến công năm Mậu Thân 1968, Huyện ủy phân công chị dẫn đoàn đấu tranh chính trị với quy mô lớn. Đoàn biểu tình là nhân dân các xã An Khánh, Hòa Tân,Tân Nhuận Đông, Phú Long, An Nhơn được ta vận động tham gia, kéo về quận Đức Tôn đến đồn Mù U của xã An Nhơn thì bị địch chặn lại.

           Đoàn biểu tình dừng lại đấu tranh và kêu gọi: binh sĩ đồn Mù U cùng với nhân dân nổi dậy cướp chính quyền, các anh em binh sĩ  hãy vác súng về với nhân dân, về với cách mạng. Binh lính trong đồn hưởng ứng, chúng cho đoàn biểu tình đi qua và kéo xuống dinh quận Đức Tôn.

           Đoàn biểu tình tới bót đầu cầu Cái Tàu Hạ, bị địch ngăn chặn, chúng đứng dàn hàng ngang, bắn chỉ thiên ra lệnh giải tán nhưng đoàn biểu tình kiên quyết không giải tán mà tranh thủ tuyên truyền, vận động binh sĩ. Có một bác nông dân móc búa lận trong người ra cầm tay, quyết ăn thua một phen với bọn lính, địch ngoan cố, đàn áp quyết liệt, chúng hạ nòng súng bắn thẳng vào đoàn biểu tình làm 7 người bị thương nặng, đoàn biểu tình lo cứu chữa số bị thương và  nhờ người chở số bà con bị thương lên bệnh viện Sa Đéc điều trị, rồi củng cố lại đội hình, đấu tranh quyết liệt với mấy tên lính trong đồn, đòi bồi thường nhân mạng và trừng trị những tên lính bắn dân bị thương. Chúng rút hết vô đồn để đoàn biểu tình tự do đi vào xóm nhà dân vận động tuyên truyền, khí thế cách mạng sôi sục.

          Đến chiều tối đoàn biểu tình kéo ra Vàm Đình, ca hát vang dội để tạo khí thế và hô to khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ, Ngụy”, “Hồ Chí Minh muôn năm”! Sau một ngày đấu tranh Đoàn biểu tình được bà con cho gạo nấu cơm ăn. Lúc nầy, tàu sắt của địch từ Vĩnh Long chạy tới, chúng bắn xối xả vào đoàn biểu tình làm cơm nước đổ tung tóe. Đến khuya, huyện ủy cho người ra tìm đoàn biểu tình và hướng dẫn rút lui. Tuy địch gây thương tích cho vài người nhưng cuộc biểu tình đấu tranh chính trị đã làm cho địch xuống tinh thần và khí thế phong trào cách mạng dâng cao tiến tới trận Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968.

          Sau Tết Mậu Thân, địch phản kích ác liệt, liên tục càn quét, đánh phá vùng giải phóng của ta. Lúc này, Tỉnh ủy Vĩnh Long chủ trương tấn công liên tục vào sào huyệt địch và hoán đổi chuyển vùng số cán bộ nữ có điều kiện hợp pháp, vì qua đợt Tổng tiến công Tết Mậu Thân, cơ sở mật, cán bộ hợp pháp bị lộ gần hết, địch khủng bố, lùng bắt hầu hết cơ sở, cán bộ hợp pháp của ta. Chị Tư Hải được hoán đổi về huyện Tam Bình và được Huyện ủy phân công ra bám Thị trấn Tam Bình công tác hợp pháp, sinh hoạt đảng tại Chi bộ Thị trấn do đồng chí Thanh Tân làm Bí thư.

        Lúc bấy giờ, chị cải trang, cắt tóc ngắn và sử dụng giấy căn cước với tên Lê Thị Mua, chị dẫn theo đứa con nhỏ là Hồ Ngọc Lệ vừa 4 tuổi, để dễ ngụy trang qua mắt địch. Khi ra Thị trấn, chị được Huyện ủy bố trí ở nhà một cơ sở quần chúng tốt là bà Năm - chủ nhà máy xay lúa. Chị Tư Hải ở đây trong vai người giúp việc cho bà Năm, với trọng trách chi bộ Thị trấn giao là gầy dựng cơ sở bí mật và nắm tình hình, quy luật hoạt động của địch để tổ chức đánh địch, diệt ác ôn.

         Qua nắm tình hình, chị biết được tên Đảnh là Thiếu tá quận trưởng Tam Bình rất hiếu chiến, ác ôn  khiến nhân dân vô cùng khiếp sợ. Và tên Đảnh có rất nhiều sơ hở, chủ quan trong hoạt động, ta có khả năng tiêu diệt hắn. Sau khi nắm chắc tình hình và quy luật hoạt động của tên Đảnh, chị chọn mục tiêu là diệt hắn nên báo cáo về chi bộ và đồng chí Thanh Tân  là lãnh đạo trực tiếp của chị, chi bộ nhất trí cho chị đánh chất nổ tiêu diệt tên Đảnh.

          Chất nổ diệt tên Đảnh là hai trái mìn do công trường ta sản xuất - một trái nhỏ bằng gói thuốc Ruby sẽ nổ trước 15 phút để gây chấn động và trái mìn lớn bằng hộp lon cá mòi, sẽ nổ tiếp sau 15 phút nhằm diệt tên Đảnh và bọn lính, vì quy luật khi có tiếng nổ, có động thì tên Đảnh cùng bọn lính lên xe Jeep chạy đến hiện trường.

          Đến 15 giờ chiều ngày 05- 6- 1970, chị Tư Hải tiến hành đánh theo kế hoạch, chị chuẩn bị một thau đồ và bẻ hai ống axit tra vào hai quả mìn rồi bỏ hai trái mìn dưới lớp quần áo. Chị dắt bé Lệ đi theo như dắt con xuống cầu tắm giặt. Đến mé sông chị định đặt mìn thì thấy nhiều người dân tắm trên sông, chị nghĩ nếu đặt mìn ở đây nổ sẽ chết dân nên chị bưng thau đồ đi lên tìm nơi khác đặt. Chị vừa đi lên bờ được một đoạn thì mìn phát nổ, tiếng nổ đinh tai, chị choáng váng và cứ ngỡ là ta pháo kích ra Thị trấn! Hốt hoảng, chị định bỏ chạy thì nghe đứa con kêu thét “Mẹ ơi!” Chị quay lại thấy con nằm sấp xuống đất, máu me đầy mình, chị bồng con lên thì thấy chân trái lặt lìa, chân phải thủng một lỗ từ bên này trổ sang bên kia, còn chị thì bị thương nhiều vết, tóc cháy khét và mặt mày nám đen.

          Khi nghe tiếng nổ, lũ giặc ùa tới bắt chị, bé Lệ - con chị thì địch đưa lên trực thăng chuyển qua bệnh viện Cần Thơ. Chị đang bị thương máu me đầy mình nhưng địch đưa chị về Chi Cảnh sát Tam Bình tra tấn, khai thác ngay, chúng tra tấn, hành hạ chị dã man, chị ngất đi và tỉnh lại nhiều lần, đến khi kiệt sức, chị vẫn không khai một lời nào. Nỗi đau đớn từ các vết thương và nỗi đau do địch tra tấn tàn bạo vẫn không bằng nỗi đau như đứt ruột mà chị mang trong lòng, vì lo lắng cho đứa con còn quá bé bỏng trong tay giặc. Chị không biết thương tật con ra sao? Địch có cho chăm sóc bé hay để bé chết rồi?! Ôi, con gái nhỏ tội nghiệp của chị! Lòng chị quặn thắt, đớn đau tận cùng!

           Sáng hôm sau địch chuyển chị về An ninh quân đội tỉnh Vĩnh Long. Chúng tiếp tục điều tra, đánh đập chị dã man, chúng châm điện làm chị ngất đi, rồi chúng tạt nước cho chị tỉnh lại và tiếp tục tra tấn, chị một mực không khai. Ban ngày chúng tra tấn hỏi cung, đánh đập tàn bạo, đêm chúng gửi chị vào khám lớn ở Vĩnh Long, chúng tra tấn chị liên tục ở An ninh quân đội 20 ngày cũng không khai thác được gì. Chị cứ khai trước sau như một: “Tôi ở cô nhi viện ra, đi làm thuê kiếm sống, dại khờ nên bị lừa gạt sinh ra đứa con. Tôi chỉ đi làm thuê nuôi con. Tôi không đặt chất nổ, mấy ông giành gái ném lựu đạn với nhau làm mẹ con tôi bị thương, chứ tôi không biết gì cả”. Chúng gắt: “Hai trái mìn trong thau đồ của mầy mà mầy không nhận?” Chị nói: “Tôi không có thau đồ gì cả, thau đồ đó của ai tôi không biết”. Chị cứ một lời khai như vậy.

           Riêng bé Lệ, chúng đưa qua bệnh viện Cần Thơ và bỏ cháu trên nền gạch vì “là con Việt cộng, cùng mẹ đi đánh mìn”chúng không hề chữa thương cho bé. Các vết thương gây đau nhức cháu khóc đến khàn cổ, lại bị nhiễm trùng làm cháu sốt cao và bị phong đòn gánh giựt cong mình, tiếng rên la của đứa trẻ làm xót lòng mọi người chung quanh nhưng không ai dám giúp đỡ cháu vì sợ bị liên lụy.  Nhờ sự giúp đỡ của các nữ tu làm công nhật ở bệnh viện gọi bác sĩ đến khám và tiêm thuốc giảm đau cho bé Lệ. Sau đó cưa chân bị gảy của cháu, băng bó xong chúng lại để cháu nằm xuống nền gạch lúc cháu mê man không còn biết gì, không có y tá, bác sĩ nào theo dõi, chăm sóc, không có người thân trông coi, chỉ có bọn cảnh sát canh gát. Ai thấy cũng đau lòng và nghĩ rằng bé Lệ sẽ chết.

         Sáng hôm sau tỉnh dậy, bé Lệ khóc la thảm thiết, cháu bò, cháu lết lòng vòng trên nền gạch mà khóc kêu “Mẹ ơi! Ngoại ơi!...”. Địch đưa bé Lệ xuống trại “Mui”- là trại dành cho bệnh nhân nghèo, mồ côi. Ở đây vài ngày, bé Lệ bớt đau nhức, cháu tỉnh táo lại, có lẽ cháu biết hoàn cảnh của mình nên cháu cố gắng chịu đựng sự đau nhức của vết thương, không khóc la nữa. Bệnh viện phát cho cháu một cái thau nhỏ để đựng cơm và một cái muỗng, mỗi khi đến giờ ăn cháu lấy cái thau úp lên đầu để hai tay chống sàn gạch mà tự lực lết đến chỗ phát cơm, nhận phần cơm ăn. Cháu rất ngoan, gặp ai lớn tuổi như bà ngoại của cháu, cháu cũng kêu “Bà ngoại”, gặp các cô y tá thì cháu gọi là “Mẹ”, ai thấy xót thương  mà không dám giúp đỡ vì bọn Cảnh sát theo dõi ngày đêm.

          Một tuần sau khi bé Lệ được đưa về bệnh viện Cần Thơ, bà ngoại cháu là bà Kim Hoa đã sang tìm được cháu nơi trại “Mui”. Bà rơi nước mắt khi nhìn cháu bị cụt một chân và cả hai chân đều băng bó trắng xóa, mặt thì phờ phạc, hốc hác. Bé Lệ nhìn thấy bà ngoại mà không dám gọi, chỉ nhìn bà bằng đôi mắt rưng rức, bà cố nuốt nước mắt, ôm chặt cháu vào lòng. Bà đóng vai người nuôi bệnh thuê, không để lộ cho mọi người biết là bà ngoại của cháu.

         Ở Chi Cảnh sát Tam Bình, địch tra tấn chị Tư Hải dã man. Ban ngày bận làm việc, đêm chúng tập trung tra khảo chị, chúng thi nhau đánh, đá vào người chị túi bụi. Chúng dùng điện kẹp hai bên lỗ tai chị, có lúc quấn vô hai ngón tay cái hoặc chân cái và mở điện lên, chị bị trào bọt mép bất tỉnh, chúng tạt nước lên người cho chị tỉnh lại và tiếp tục tra tấn là hỏi cung chị:

             - Ai tổ chức mầy?

             - Mầy nhận trái nổ ở đâu?

           Chị một mực im lặng, lắc đầu, chúng tức tối tiếp tục đấm, đá vào người chị. Một ngày, một đêm tra tấn, chúng vẫn không khai thác được gì, chúng đành thả chị ra. Chiều ngày 24 - 6 - 1970, trong lúc ngồi chờ bọn Cảnh sát đặc biệt làm thủ tục tha chị, chị nghe tiếng gầm rú của tốp trực thăng bay qua về hướng Hậu Lộc, Mỹ Lộc, rồi nghe phóng pháo bắn dữ dội, chị đoán là nó đánh điểm nào trong đó.   

          Nhận được giấy ra tù đã hơn 5 giờ chiều, chị Tư Hải đón xe về nhà người chị chồng ở xã Lộc Hòa tá túc qua đêm. Đêm chị thao thức thương và lo cho con gái nhỏ không sao ngủ được, rạng sáng hôm đó chị đón tàu qua  Cần Thơ. Đến bệnh viện tìm con, hỏi thăm những người nuôi bệnh, chị xuống trại “Mui” và tìm gặp hai bà cháu đang rửa mặt ở vòi nước công cộng, thấy con bị cụt chân, chị đau xé lòng mà không dám khóc. Chị đến gần bên mẹ, giả vờ rửa tay, bé Lệ thấy mẹ, nhìn trân trân mà không dám gọi mẹ, mẹ chị nhìn thấy con gái thì nước mắt trào ra. Chị thì thầm hỏi: “Má khỏe không? Ba khỏe không?” Thì bà bật khóc nức nở nói: Ba con hy sinh rồi, chiều hôm qua trực thăng đổ quân đánh điểm bắn ba con chết!”. Chị nghe tin như sét đánh ngang tai, tim đau thắt như ngừng đập. Thì ra đoàn trực thăng hôm qua chị thấy bay về hướng Hậu Lộc, Mỹ Lộc phóng pháo là thủ phạm đã giết chết ba chị. Hai chân chị như rụng rời. Sợ kẻ địch phát hiên, chị cố nén đau thương nói khẻ với mẹ: “Má đừng khóc nữa, hãy lau nước mắt và bồng bé Lệ đi theo con, con đi đâu má theo đó, ra bến xe về Vĩnh Long ngay, bỏ đồ đạt hết đừng trở lại trại “Mui”,  vì trở lại sẽ bị lộ ngay”. 

           Bà mẹ nghe lời chị và về tới Vĩnh Long, chị dặn mẹ bồng bé Lệ về nhà chú Út ở tạm và nhờ y tá tư đến rửa vết thương cho cháu chứ đừng đưa vào bệnh viện. Bọn Cảnh sát không thấy bé Lệ ở trại “Mui” thì sẽ thông báo cho Cảnh sát Vĩnh Long bố ráp bệnh viện Vĩnh Long để tìm bắt cháu Lệ.

           Chị Tư Hải dặn dò mấy câu với Thím Út rồi ôm con hôn da diết với đôi mắt ướt lệ và phải đi ngay về Thị trấn Tam Bình cho kịp trình diện với Chi Cảnh sát. Chị rất muốn đi về vùng giải phóng để hoạt động bất hợp pháp luôn nhưng chị lo ngại địch sẽ khủng bố, bắt bớ cơ sở cách mạng mới gầy dựng được nên chị quyết lòng ở lại giữ thế hợp pháp, tiếp tục nhiệm vụ ở Thị trấn Tam Bình.

           Chị Tư Hải đến Chi Cảnh sát lúc trên 10 giờ sáng, khi trình diện xong, chị vừa bước ra cửa thì tên Cảnh sát kêu “Mua đứng lại!”.Và chúng bắt chị lại rồi tiến hành hỏi cung ngay: “Mày có phải là vợ ông Bảy Hùng không?”. Vì chiều ngày 24 - 6 - 1970, trực  thăng đổ quân vào Rạch Xẻo Bứa, xã Mỹ Lộc, địch đánh điểm, bắn chết đồng chí Bảy Hùng, chúng lấy được thùng tài liệu, trong đó có thư của Thị trấn báo cáo với đồng chí Bảy Hùng “Chị Tư Hải và cháu Lệ bị địch bắt…”.

            Mặc chúng truy hỏi chị cứ trả lời: “Tôi tên Mua, tôi không biết ông Bảy Hùng là ai hết”. Chúng dùng dùi cui đánh đập chị tàn nhẫn, vẫn không khai thác được gì.

           Qua mấy ngày tra tấn không kết quả, chúng chuyển chị lên Trung tâm thẩm vấn ở Quận Mới tiếp tục giam cầm chị. Ở đây, địch tiếp tục tra tấn chị tàn nhẫn, truy hỏi mối quan hệ với ông Bảy Hùng, chúng quyết tìm manh mối vụ đặt mìn, chị chỉ nói trước sau như một. Địch đành chịu thua, chúng không giam chị ở xà lim nữa mà đưa chị xuống nhà Thiếc-  vì thiếu chỗ giam giữ những nữ tù trong vòng thẩm vấn, nên chúng tạm giam nữ tù trong một ngôi nhà lợp thiếc, không có trần, nóng cháy da, xung quanh là mương nước sâu rộng, mênh mông; ngoài lớp tường, còn nhiều lớp kẽm gai bao chằng chịt để người tù  không trốn thoát được. Phòng giam có nhiều chị em quen biết như bà Dương Bạch Xây, bà Hai Liên, chị Phấn…nhưng mọi người không dám nhìn nhau vì sợ gián điệp của địch cài trong đó. Chị em cũng tìm cách để hỏi thăm, động viên nhau, các chị giúp đỡ thuốc men cho chị và cho chị biết nếu ai bị bắt mà có tang vật thì sẽ bị địch đày ra Côn Đảo. Chị thăm dò biết địch dùng xà lim để chứa tang vật, vậy là chị nhân lúc tên giám thị đang say rượu, cảm hóa hắn và nói: “Xin chú Bảy mở cửa xà lim để cháu qua lấy quần áo và thuốc xức vì các vết thương đến nay còn chảy máu. Lúc họ bắt cháu về đây, cháu còn bỏ đồ trong đó”.

           Tên giám thị trong cơn say gật gù thấy chị xuống giọng năn nỉ thì cảm thương, đã mở cửa phòng giam cho chị sang xà lim. Chị nhanh chóng tìm được 2 trái mìn tang vật, một trái nhỏ như hộp thuốc Ruby nổ khúc đầu còn lại phần đuôi và trái mìn to bằng hộp lon cá mòi thì còn nguyên, chị bỏ vào chiếc áo bông rộng đang mặc và trở về phòng giam. Chờ đến tối, nhờ các chị trong trại canh gát, chị bí mật ném tang vật xuống mương. Vứt đi được tang vật chị rất mừng, các chị động viên và dặn dò: “Khi ra tòa phải phản bác lời kết tội”. Vài hôm sau đó, chúng chuyển chị Tư Hải qua khám lớn.

          Sau gần một năm giam giữ chị ở khám lớn Vĩnh Long, địch đưa chị sang Cần Thơ để Tòa án Quân sự xét xử. Lúc Tòa án lưu động Sài Gòn xuống xét xử, chị mưu trí dùng lời lẽ hợp lý để chứng minh mình vô tội và kiên quyết không nhận tội theo cáo trạng. Do không có tang chứng gì và lý lẽ phản bác của chị hợp lý nên phiên tòa tuyên bố: “Tội danh không thành lập, tha bổng trước tòa”. Nhưng bọn Cảnh sát tỉnh Vĩnh Long cho rằng chị là Cộng sản nòi nên chúng nhất quyết không tha chị. Hơn 2 tuần sau, chúng dẫn chị ra xe bít bùng chở về khám lớn Vĩnh Long giam tiếp.

           Địch tiếp tục giam cầm chị và tra tấn dã man, sức khỏe chị ngày càng yếu. Hàng đêm chị không sao ngủ được vì nỗi đau vừa mất cha day dứt trong lòng, lại thêm nỗi thương nhớ bé Lệ - đứa con tội nghiệp của chị lúc còn trong bụng mẹ, cha đã hy sinh và mới bốn tuổi thì đã bị thương tích, tật nguyền, mẹ thì bị tù đày mãi. …tương lai của con sẽ ra sao đây?! Lòng người mẹ như tơ vò. Chị lại nhận tin: mẹ chị cũng bị địch bắt bỏ tù vì tội có chồng con theo Cộng sản. Vậy là, đứa con gái lớn chị gửi bà nội nuôi dưỡng, chăm sóc, cậu Út và bà ngoại nuôi bé Lệ. Cậu Út đã phải đốn hai cây tầm vong, gọt đẻo làm hai cây nạng cho bé Lệ tập đi, nhìn đứa cháu bé bỏng phải dùng một chân còn lại chống tó để đi thật đau xé lòng.

             Sau vụ chị Tư Hải đánh mìn diệt ác không thành, dù không có chứng cứ nhưng địch đã giam giữ, tra tấn, hành hạ chị dã man suốt 3 năm trời. Ai đã qua những ngày tù trong nhà tù của Mỹ- Ngụy sẽ hiểu “Một ngày tù như thiên thu”, giặc đày đọa tinh thần và thể xác người tù vô cùng tàn khốc. Nhưng tinh thần bất khuất, trung kiên của chị cũng như các chị em trong tù luôn tỏa sáng, giặc dùng mọi cách: tra tấn dã man hay chiêu dụ vẫn không khuất phục được chị. Tinh thần bất khuất đã biến da thịt chị như sắt, như đồng, chị vẫn kiên cường trước đòn thù hiểm ác của địch. Chị đã làm tròn nhiệm vụ của người Đảng viên Cộng sản và xứng đáng với truyền thống của người cha yêu kính đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược.

             Trong tù, sức lực chị Tư Hải ngày càng kiệt quệ vì những trận đòn khảo tra dã man của địch. Chị em bạn tù của chị Tư Hải thấy sức khỏe của chị quá yếu, sợ chị không sống nổi, các chị đấu tranh quyết liệt đòi phải thả chị Hải ra. Cuối cùng, đến ngày 20/4/1973 địch buột phải thả chị ra vì nếu không chị sẽ chết trong tù, mà chúng thì cũng không có chứng cứ gì buột tội chị. Chị Tư Hải ra tù, nhà cửa thì không còn, sau nhiều lần tan nát vì bom đạn, chị ở nhờ nhà của người chú thứ năm ở phường 9, thị xã Vĩnh Long (nay là thành phố Vĩnh Long), vừa chăm sóc con, vừa hoạt động hợp pháp.

             Những năm này ta tấn công mạnh ở các chiến trường: Ấp Bắc, Khe Sanh, Vạn Tường... Giặc bắt đầu kềm kẹp tù chính trị; hàng đêm, chúng buột tất cả tù chính trị phải tập trung lên Hội đồng xã ngủ. Chúng sàm sở tù chính trị nữ. Chị Tư Hải lấy cớ bệnh nặng xin chuyển lên Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) để điều trị bệnh. Lên Sài Gòn chị sống với cô em gái là công nhân hảng dệt Sicovina (nay là nhà máy sợi Khánh Hội) ở quận 4.

            Sau ngày chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất, chị tham gia xây dựng chính quyền địa phương nơi chị cư ngụ ở đường Nguyễn Thị Nghĩa, Khu phố 3, Phường 12, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị được phân công đảm trách các nhiệm vụ: Chủ tịch Hội Phụ nữ phường kiêm Chi hội trưởng chi hội Cựu Chiến binh, vừa phụ trách Chi hội Người Cao tuổi, Tổ trưởng Khu dân cư, Tổ phó cựu tù chính trị của phường.

            Đến năm 1992, chị nghỉ hưu nhưng vẫn tham gia là Ủy viên thường vụ BCH Hội Phụ nữ phường để hỗ trợ chị em mới tham gia BCH. Hiện nay do tuổi cao và cũng do hậu quả của thời gian tù đày, bị địch đánh đập, tra khảo dã man, sức khỏe chị đã yếu nên chị xin thôi giữ các nhiệm vụ trên, chị chỉ tham gia sinh hoạt với các Hội (Cựu chiến binh, Phụ nữ, Người Cao tuổi) với tư cách là hội viên; riêng tổ chức Cựu tù chính trị  chưa có người thay nên chị vẫn tiếp tục phụ trách.

            Chị và các em luôn nhớ về người cha kính yêu đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nên luôn phấn đấu công tác và học tập tốt để tiếp nối truyền thống của cha, cống hiến nhiệt tình vì sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Ngọn lửa cách mạng trong tim người chiến sĩ biệt động thành năm xưa cũng luôn rực sáng trong tim chị. Chị truyền lại cho các em và con cháu. Các con chị, dù công tác ở vị trí nào trong xã hội vẫn luôn nhiệt thành, tâm huyết hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đặc biệt là cháu Lệ- đứa con gái nhỏ ngày xưa, chị ẳm theo đi đánh mìn đã bị mất một chân khi mìn nổ, dù bị khuyết tật nhưng cháu có ý chí, nghị lực, luôn nỗ lực phấn đấu. Hiện nay, cháu Lệ có một gia đình yên ấm và là giảng viên một trường Đại học, sự trưởng thành tốt của cháu là niềm an ủi lớn, để xua đi nỗi đau vẫn ray rức trong lòng chị: “vì nhiệm vụ của chị mà cháu phải chịu khuyết tật”.   Bây giờ, tuổi hoàng hôn, niềm vui của chị là được sống cùng con cháu, nhìn con cháu trưởng thành và hạnh phúc.  

Thúy Vân

 

 

Văn Bản Mới
Danh sách