Đang truy cập
Tổng truy cập
309
36,099,325
Cha và con (Theo "Con đường vạn dặm của Chủ tịch Hồ Chí Minh")
Nguyễn Sinh Cung, sau này đổi tên là Nguyễn Tất Thành, cất tiếng khóc chào đời năm 1890 tại một làng quê của Nghệ Tĩnh, một cái nôi của truyền thống yêu nước và nổi tiếng là xứ sở của sĩ phu. Nhưng thiên nhiên ở đây rất khắc nghiệt, con người phải giành từng miếng ăn với hạn hán, với bão lụt, cuộc sống muôn vàn khó khăn không đâu bằng.
Quê mẹ Ông tại làng Hoàng Trù (Hoàng Trùa) và quê cha là làng Kim Liên (làng Sen) đều thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Nguyễn Sinh Cung là con trai thứ ba của ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan. Anh là Nguyễn Sinh Khiêm, sinh năm 1888; Chị cả là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884. Cả gia đình sống ở quê ngoại.
Năm 1895, lần đầu tiên ông Nguyễn Sinh Sắc vào kinh đô Huế để học thi hội, bà Hoàng Thị Loan và hai con đi theo. Lúc bấy giờ Nguyễn Sinh Cung lên năm tuổi.
Cả gia đình vào Huế, trong lúc nhân dân Thừa Thiên đang trải qua cơn đói khát do bão lụt gây ra. Ông Nguyễn Sinh Sắc vừa kèm cặp hai con học tập, vừa phải dạy học thêm cho một số con cháu quan lại để có thêm thu nhập. Bà Loan, ngoài công việc nội trợ, cũng phải làm thêm nghề dệt thuê mới đủ nuôi sống gia đình.
Khoa thi Hội năm 1898, ông Nguyễn Sinh Sắc không đỗ, nên không được học bổng trường Quốc Tử Giám nữa. Bà Loan lại sinh người con thứ tư. Cuộc sống gia đình vốn khó khăn càng thêm khó khăn.
Ông Nguyễn Sinh Sắc phải đi dạy học xa, và đem hai con theo, cách Huế 7 kilomet, để bà Loan ở lại nhà tiếp tục nghề dệt vải và nuôi con nhỏ.
Tuy vậy, ông Nguyễn Sinh Sắc vừa dạy học, vừa ôn tập bài vở chuẩn bị cho khoa thi Hội Tân Sửa (năm 1901).
Tháng 2 năm 1901, bà Loan lâm bệnh và qua đời.
Một mình phải nuôi bốn con, trong khi gạo tiền đã hết, ông Nguyễn Sinh Sắc đành phải đưa các con trở về quê ngoại ở làng Hoàng Trù. Nhưng sự bất hạnh gia đình chưa phải đã chấm dứt. Bé Nguyễn Sinh Xin, người con thứ tư của ông Sắc, lại qua đời.

Ông Nguyễn Sinh Sắc chỉ còn biết nén đau thương, ngày ngày đọc sách và chuẩn bị cho kỳ thi Hội Tân Sửu.
Năm Tân Sửu (1901), ông Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó Bảng trong kỳ thi Hội, được vua ban áo mão cờ biển và cho ngựa trạm đưa về tỉnh. Nhưng từ Vinh về nhà, ông từ chối lễ rước, không nhận lễ mừng.
Sau khi đỗ Phó Bảng, ông Nguyễn Sinh Sắc phải cùng các con dời về quê nội Kim Liên. Nhân dịp này, ông Phó Bảng làm lễ "vào làng" cho hai con với tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Nguyễn Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Sinh Cung).
Nguyễn Tất Thành tiếp tục học chữ Hán ngay tại làng Kim Liên với các nhà nho yêu nước, trong đó có thầy Vương Thúc Quý. Thành tỏ ra là một học sinh thông minh, nhanh trí và có trí nhớ tốt, nên được thầy Vương Thúc Quý yêu mến.
Nguyễn Tất Thành tiếp tục học chữ Hán với cha. Ông Nguyễn Sinh Sắc không đi làm quan, mở lớp dạy học tại làng Du Hông, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Năm 1905, con đường học vấn của Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được đánh dấu bằng một bước ngoặt rất có ý nghĩa. Đó là theo quyết định của cha, hai con từ bỏ việc học chữ Hán để theo học chữ Quốc Ngữ và chữ Pháp ở Vinh.
Tại sao ông Phó Bảng lại có sự quyết định cực kỳ quan trọng trên đây, mặc dù hai con phải trọ tại một gia đình nghèo ở thành phố Vinh, cách làng Kim Liên khoảng 14 kilomet, và vì đường xa, hai con chỉ có thể về thăm nhà chiều thứ bảy, sáng thứ hai, lại phải đi bộ 14 kilomet nữa mới xuống tới Vinh.
Tất nhiên, vấn đề không phải ở chỗ đường xa hay đường gần mà ở ý nghĩa trọng đại của quyết định.
Đối với ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, từ bỏ chữ Hán khác nào từ bỏ đức tin đối với người sùng đạo.
Hơn nữa, đến năm 1915 và 1918, khoa cử mới lần lượt bị bãi bỏ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Như vậy, đối với ông Phó Bảng, ngay từ năm 1905, khoa cử đã không còn ý nghĩa gì nữa rồi. Nhà nho thức thời Nguyễn Sinh Sắc không để cho hai con mất 10 hoặc 15 năm nữa mới chuyển hướng học tập.
Sự thực là ông Nguyễn Sinh Sắc đã mất lòng tin ở tương lai của chữ Hán, cũng như ở các phong trào yêu nước lúc ấy. Vả lại, các sĩ phu đã bắt đầu bàn tán "Người thì ủng hộ chủ trương của Phan Bội Châu và không tin ở chủ trương của Phan Châu Trinh. Người thì tán thành chủ trương của Phan Châu Trinh và phê phán chủ trương của Phan Bội Châu. Có người lại theo xu hướng Duy Tân của " Đông Kinh Nghĩa Thục", ở Hà Nội, không tán thành chủ trương của hai cụ Phan".
Trước tình hình trên đây, ông Phó Bảng đã suy nghĩ nhiều, đã xem xét vấn đề dưới mọi khía cạnh và đã chuẩn bị sự đổi hướng trên đây từ nhiều năm qua cho hai con và cho cả bản thân ông.
Những người đỗ cùng khoa với ông đều đi làm thừa biện từ năm 1903, tức sau kỳ thi hai năm, theo thông lệ. Nhưng ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc thì lấy lý do đau ốm, chịu tang mẹ, vợ v.v….. để tiếp tục ở lại quê hương với bạn bè.
Trong những lúc nói chuyện với bạn bè, ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc thường dắt theo Nguyễn Tất Thành. Thông qua những quan hệ này, tư tưởng yêu nước của các sĩ phu đã ảnh hưởng đến tư duy và tình cảm của Thành. Thành đi bên cạnh cha, khác nào được sự trông nom và chỉ dẫn trực tiếp của một người thầy có một không hai, nhất là mỗi khi cha và con đến làng Đông Thái để thăm quê hương của Phan Đình Phùng, hoặc đến làng Trung Lễ để thăm quê hương của Lê Ninh……, hoặc khi cùng đi thăm các di tích lịch sử, như thành Lục Niên và miếu thờ La Sơn Phu Tử…..
Nhưng, ngoài những cuộc nói chuyện với các sĩ phu yêu nước, Nguyễn Tất Thành lúc nào cũng nóng lòng muốn biết cặn kẽ về những sự kiện đã làm chấn động đất nước, như những cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng và của Hoàng Hoa Thám, phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu và những hoạt động yêu nước của cụ phan Châu trinh v.v…

Nguyễn Tất Thành vô cùng khâm phục và ngưỡng mộ gương xả thân vì nước của các bậc tiền bối, nhưng tự hỏi tại sao tất cả những con đường cứu nước của các cụ đều thất bại ?
Ông Nguyễn Sinh Sắc bàn luận nhiều với các sĩ phu, những ông chưa tin tưởng ở các chủ trương cứu nước của một người nào, kể cả chủ trương Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Còn Nguyễn Tất Thành thì từ chối hẳn việc du học ở Nhật.
- Tại sao nước Nhật duy tân và hùng cường, đã từng nhận chìm hạm đội của Nga Hoàng năm 1905, lại quay lưng bỏ rơi một dân tộc châu Á ?
- Tại sao nhà cầm quyền Trung Quốc lại trao nhà yêu nước Phan Bội Châu cho Pháp ?
- Vậy ai sẽ giúp chúng ta thoát khỏi ách thống trị của Pháp ? nước Anh? hay nước Mỹ ?
Sự thực bi đát là lúc bấy giờ không ai có thể tìm được câu trả lời ở phương Đông này nữa!
Thực tế là ông Nguyễn Sinh Sắc, một nhà nho thức thời, và đứa con trai của ông đang tràn đầy ý chí và hoài bão, phải tự giải đáp cho mình những câu hỏi lớn trên đây.
Cuối cùng, ông Nguyễn Sinh Sắc đã nói với con: "Theo cha chỉ có một con đường là đi ra nước ngoài, hay là sang phương Tây, thậm chí sang tận nước Pháp, mới có khả năng tìm ra chân lý".
Nguyễn Tất Thành hoàn toàn nhất trí với cha, cũng như Thành đã suy nghĩ nhiều về câu nói của ông nghè Nguyễn Quy Song: "Muốn đánh Pháp thì phải hiểu Pháp, muốn hiểu Pháp thì phải học chữ Pháp".
Trong khi chờ đợi, vào cuối tháng 5 năm 1906, ông Nguyễn Sinh Sắc đành dắt hai con Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt vào Huế để nhận bổ nhiệm làm thừa biện Bộ Lễ. Không phải để vinh thân mà để che thân.
Năm 1907 từ trường Đông Ba, Nguyễn Tất Thành được chuyển sang trường Quốc học Huế. Thành được nhận vào lớp trung đẳng (Cours moyen). Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính dạy trong trường.
Vào Huế lần này, Nguyễn Tất Thành miệt mài học tập, tập viết, tập dịch, tập phát âm tiếng Pháp, mà vẫn không quên trau dồi chữ Hán.
Học xong lớp nhất niên khóa 1907 – 1908, Nguyễn Tất Thành cùng với mấy bạn đạt điểm xuất sắc đã vượt qua năm thứ nhất vào thẳng năm thứ hai trường Quốc học.
Có hai thầy giáo đã có ảnh hưởng tốt đối với Thành.
Người thứ nhất là cụ Hoàng Thông, là đồng chí của Phan Bội châu và Phan Châu Trinh.
Để vận động cách mạng, cụ Hoàng Thông viết cuốn Tự Trị Thượng Sách, trong đó có câu nổi tiếng: "Nước vì bất hạnh mà mất, không phải mất nước của một họ riêng mà thôi… cùng mất nước, dân tộc bị diệt chủng".
Cụ Hoàng Thông là người đứng đầu một hội buôn bán ở Huế để làm tài chính cho phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân. Cụ giao cho Nguyễn Tất Thành nhiện vụ liên lạc vì nhận thấy ở Thành một thanh niên có nhiều tâm huyết.
Người thứ hai có nhiều ảnh hưởng đối với Nguyễn Tất Thành là họa sĩ Lê Văn Miến. Cụ là người Nghệ Tĩnh, lúc nhỏ nổi tiếng học giỏi, nên được chọn gửi sang Pháp học trường Thuộc địa, cùng hai người nữa là Hoàng Trọng Phu và Phan Trọng Huề. Tốt nghiệp trường Thuộc địa, hai người này về làm quan. Còn cụ Miến thì ở lại, vừa đi làm vừa học trường Mỹ Thuật (Beaux Arts). Về nước, cụ không xin làm quan mà xin làm thợ lên khuôn cho một nhà in ở Hà Nội. Về sau vì bị tình nghi cùng vua Thành Thái hoạt động chống Pháp, cụ phải đi dạy học và dạy vẽ, học sinh Nguyễn Tất Thành đã học vẽ với cụ. Điều quan trọng hơn cả là cụ hay kể chuyện nước Pháp cho học sinh nghe.
Những câu chuyện về "Người Pháp ở nước Pháp khác với người Pháp ở thuộc địa", về " Người Pháp rất tôn trọng người Việt Nam học giỏi và có tư cách" " và "Trên đất Pháp có nhiều thư viện, đủ các loại sách vở nói về các cuộc cách mạng của các nước trên thế giới, vào đọc không mất tiền!"…., chỉ bao nhiêu đó cũng đủ hấp dẫn mãnh liệt tinh thần hiếu học của Nguyễn Tất Thành rồi!
Đến năm 1907, kinh thành Huế sôi lên cùng các phong trào yêu nước ở một số tỉnh Trung bộ.
Ngày 9 tháng 3 năm 1908, tại Quảng Nam, quê hương của nhà ái quốc Phan Châu Trinh, đã nổ ra phong trào đấu tranh đòi giảm sưu thuế. Phong trào nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa…..
Các cuộc đấu tranh của nhân dân bị Pháp và triều đình Huế thẳng tay đàn áp.
Vua Thành Thái bị Pháp đày vào Nam. Các ông Hoàng Thông, Lê Đình Mông…. bị đày biệt xứ. Các ông Phạm Toản, Nguyễn Mạnh vì cầm đầu cuộc biểu tình chống thuế ở huyện Hương Thủy, bị án chém.
Hai anh em Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành đều tham gia biểu tình với nhân dân. Ông Nguyễn Sinh Sắc bị tòa Khâm khiển trách về tội đã để cho hai con hoạt động chống Pháp.
Biện pháp trả đũa thấp hèn ngày 1 tháng 7 năm 1909 của Pháp và triều đình Huế là đề bạt ông Nguyễn Sinh Sắc làm tri huyện Bình Khê, một huyện hẻo lánh vùng bán sơn địa của tỉnh Bình Định, cách kinh đô Huế 300 kilomet.
Trước khi đi nhậm chức, ông Nguyễn Sinh Sắc gởi Nguyễn Tất Thành đến Qui Nhơn để học thêm tiếng Pháp với thầy giáo Phạm Ngọc Thọ, theo chương trình lớp cao đẳng (cours superieur).
Mỗi lần Nguyễn Tất Thành từ Qui Nhơn lên thăm cha ở Bình Khê, hai cha con đều đi viếng các di tích lịch sử vùng Tây Sơn, quê hương của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ.
Nhưng vì ông tri huyện Bình Khê bênh vực dân nghèo và trừng trị bọn hào lý ức hiếp dân, nên ngày 17 tháng 1 năm 1910, ông bị triều đình cách chức và triệu về kinh đô, sống trong tình trạng bị giam lỏng.
Ngày 19 tháng 5 năm 1910, Hội đồng Nhiếp Chính triều đình Huế họp, khép ông Nguyễn Sinh Sắc vào tội " lạm quyền" và tuyên án đánh 100 trượng, sau đổi thành giáng 4 cấp và thải hồi.
Ông tri huyện Bình Khê hoàn cốt là một thường dân, một thường dân tự do còn hơn một tri huyện hoàn toàn nô lệ.
Về Nguyễn Tất Thành thì sau thời gian sống ở Huế và Qui Nhơn, Thành đã nghe nhiều, thấy nhiều và cũng đã suy nghĩ nhiều về tình hình của đất nước.
Tháng 10 năm 1907, trường Đông Kinh Nghĩa Thục bị Pháp đóng cửa, các ông Lương Văn Can và Nguyễn Quyền cùng các sĩ phu khởi xướng phong trào, người thì bị cầm tù, người thì bị đày biệt xứ.
Ngày 27 tháng 6 năm 1908, vụ đầu độc trại lính Pháp ở Hà Nội thất bại, binh lính tham gia vụ đầu độc này đều bị Pháp chặt đầu bêu hàng tuần trên các đường phố Hà Nội.
Ông Phan Châu Trinh bị kết án tử hình. Nhờ sự can thiệp của Hội nhân quyền Pháp, ông được giảm án nhưng bị đưa đi quản thúc ở Pháp. Ông Trần Quí Cáp và ông Nguyễn Hàng Chi bị xử chém. Các ông Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cần, Ngô Đức Kế, Nguyễn Đình Kiên, Đặng Văn Bá, Nguyễn Xuân Hoành (bạn ông Nguyễn Sinh Sắc ) bị đày ra Côn Đảo. Hàng ngàn người bị cầm tù trong các nhà lao các tỉnh, hàng trăm người bị chém giết và bị đày biệt xứ.
Ngày 23 tháng 1 năm 1909, khu căn cứ của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế bị quân Pháp đánh phá.
Tháng 2 năm 1909, vì được Pháp nhượng cho một số quyền lợi kinh tế ở Đông Dương, chính phủ Nhật trục xuất ông Phan Bội Châu và tất cả học sinh người Việt Nam ra khỏi nước Nhật (khoảng 200 người).
Nhà ông Nguyễn Sinh Sắc ở làng Kim Liên bị mật thám và hào lý rình mò. Nguyễn Thị Thanh, chị của Nguyễn Tất Thành, bị bắt giữ và tra hỏi về tội nuôi hai thủ lĩnh nghĩa quân.
Nguyễn Tất Thành rất đau đớn khi được tin thầy Vương Thúc Quý qua đời mà vẫn còn mang theo nỗi uất ức: "chưa trả thù được cho cha".
Từ những sự kiện vô cùng bi thảm trên đây, Nguyễn Tất Thành đã rút ra những kết luận cần thiết.
Chủ trương cầu viện Nhật Bản giúp đỡ để đánh Pháp của ông Phan Bội Châu là nguy hiểm, khác gì "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau".
Chủ trương yêu cầu thực dân Pháp thực hiện cải cách của ông Phan Châu Trinh khác gì "xin kẻ thù rủ lòng thương".
Chủ trương khởi nghĩa chống Pháp của các cụ Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám có phần hữu hiệu hơn nhưng cuối cùng cũng bị dập tắt.
Một cuộc vận động duy tân chưa thể hiện được, khi còn chưa đánh đuổi được thực dân Pháp.
Cho nên đối với Nguyễn Tất Thành, một ngày chưa ra đi tìm con đường cứu nước là mất đi một ngày.
Tháng 8 năm 1910, Nguyễn Tất Thành rời Qui Nhơn lên đường đi vào Sài Gòn, quyết định thực hiện ý định đi sang phương Tây để tìm cho kỳ được giải pháp cứu nước mà các bậc tiền bối không thể tìm ra ở phương Đông.
Trên đường đi từ Qui Nhơn vào Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành buộc phải dừng chân ở Phan Thiết, vì đã hết tiền. Nhưng chỉ sau mấy tháng dạy học tại trường tư thục Dục Thanh, một bộ phận của công ty Liên Thành do một nhóm sĩ phu trong hội Duy Tân thành lập, Thành được ông nghè Trương Gia Mô, bạn của cha, đưa vào Sài Gòn.
Khi ông Nguyễn Sinh Sắc đến Phan Thiết thì Nguyễn Tất Thành không còn ở đây nữa, và theo sự chỉ dẫn của gia đình ông Nghè Mô, ông Sắc đi thẳng vào Sài Gòn đến nhà ông Lê Văn Đạt ở xóm cầu Rạch Bần (nay là số 185/1 đường Cô Bắc, TP. Hồ Chí Minh ). Tại đây, ông Sắc đã gặp lại ông Nghè Mô và Nguyễn Tất Thành.
Ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc gặp lại con trong niềm hân hoan vô hạn, và hằng ngày ông đi xem mạch ra toa ở hai tiệm thuốc, cố dành dụm một số tiền cho con làm lộ phí.
Thấy cả cha và ông Nghè Mô đều khổ sở mà vẫn chưa có được số tiền cần thiết cho chuyến đi của mình, Nguyễn Tất Thành nói: "Việc của con, để cho con lo. Con có thể tự lực".
Mấy ngày sau nhờ làm quen với một người Việt Nam làm việc trên tàu Đô đốc Latusơ Trêvin, Nguyễn Tất Thành đã lên tàu đi Pháp, như chúng ta đã biết.
Nhưng, ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc đã chia tay con như thế nào? Đó là cuộc đối thoại chan chứa tình cha con.
Quá trình chuẩn bị cho cuộc ra đi của Nguyễn Tất Thành, ông Nguyễn Sinh Sắc hốc hác và gầy người đi rất nhiều. Hôm trước khi lên đường, Thành nhìn cha ái ngại:
- Cha, hồi này sức khỏe của cha suy sụp quá nhiều, cha đã hy sinh cho con suốt bao năm dài, nuôi dưỡng, dạy dỗ, dìu dắt con từng bước đường đời. nay đã từng tuổi này mà con chưa kịp báo đền, quả thật là bất hiếu, ra đi con chưa yên lòng.
- Nước mất thì lo mà cứu, con chỉ có một việc đó phải làm. Cứu nước tức là hiếu với cha rồi đó. Con hãy mạnh dạn lên đường, cha chỉ ở quanh quẩn đất Sài Gòn này để trông tin tức của con.
- Xin cha hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe, chờ tin con báo về.
Câu chuyện thật là cảm động về tình cha - con!
Theo "Con đường vạn dặm của Chủ tịch Hồ Chí Minh"
Tống Thanh Đẳng
- THỐNG NHẤT TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG NGÀY SÁCH VÀ VĂN HÓA ĐỌC VIỆT... (09/04/2026)
- Kế hoạch thực hiện Cải cách hành chính năm 2026 tại Thư viện Nguyễn... (07/04/2026)
- Thư mục sách mới tháng 4.2026 - Trụ sở chính (06/04/2026)
- Giới thiệu quyển sách “Những chặng đường lịch sử – Bài học của... (30/03/2026)
- Thư viện Nguyễn Đình Chiểu Vĩnh Long thực hiện luân chuyển sách... (24/03/2026)
- THƯ VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU VĨNH LONG TỔ CHỨC HỘI NGHỊ VIÊN CHỨC,... (20/03/2026)
- VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI (18/03/2026)